|
QUYẾT ĐỊNH
QUYẾT ĐỊNH
CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 194/2005/QĐ-TTG
NGÀY 04 THÁNG 8 NĂM 2005 PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN PHƯƠNG HƯỚNG
VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH
KHU VỰC MIỀN TRUNG - TÂY NGUYÊN
THỦ TƯỚNG
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ
chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Quyết
định số 97/2002/QĐ-TTg ngày 22 tháng 7 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010;
Căn cứ Quyết
định số 148/2004/QĐ-TTg ngày 13 tháng 8 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về
phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020;
Xét đề nghị
của Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.
Phê duyệt Đề án phương hướng và giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch khu vực
miền Trung - Tây Nguyên (gồm các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Thanh
Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng
Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Gia Lai,
Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng) từ nay đến 2010 với những nội dung chủ yếu
sau:
1. Mục tiêu chủ
yếu:
a) Mục tiêu
chung:
- Trên cơ sở tiềm
năng và lợi thế về du lịch biển, du lịch văn hoá - lịch sử, du lịch sinh thái,
đẩy mạnh phát triển du lịch của các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên, gắn phát triển
du lịch với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, đưa du lịch trở
thành một trong những lĩnh vực quan trọng, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội của từng địa phương, thực hiện chủ trương xoá đói, giảm nghèo, giữ
vững an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội.
- Phấn đấu từ năm
2010 trở đi, du lịch giữ vai trò là một trong những ngành kinh tế chủ lực của
các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên và là động lực đẩy mạnh phát triển du lịch cả
nước.
b) Mục tiêu cụ
thể:
- Đến năm 2010
khu vực miền Trung - Tây Nguyên đón khoảng 2,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế
và khoảng 10 triệu lượt khách du lịch nội địa.
- Thu nhập từ
hoạt động du lịch tăng gấp 6,2 lần so với năm 2000.
- Mức tăng thu
nhập từ hoạt động du lịch đạt bình quân thời kỳ 2006 - 2010 từ: 20 - 22%/năm.
- Việc làm tạo ra
từ hoạt động du lịch tăng từ 5 - 6 lần so với năm 2000.
2. Phương hướng
phát triển du lịch khu vực miền Trung - Tây Nguyên:
a) Các địa bàn
hoạt động du lịch:
- Các tỉnh từ
Thanh Hoá đến Hà Tĩnh: tập trung khai thác tiềm năng và thế mạnh về các loại
hình du lịch lịch sử, du lịch văn hoá, du lịch biển với trung tâm du lịch là
thành phố Vinh và vùng phụ cận.
- Các tỉnh, thành
phố từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi: tập trung khai thác tiềm năng và thế mạnh về
di sản văn hóa, nhất là các di sản đã được xếp hạng di sản thế giới trên địa
bàn, di tích lịch sử, cách mạng, các giá trị thiên nhiên của núi và biển để phát
triển du lịch. Đầu tư xây dựng các khu du lịch biển, khu vui chơi
giải trí thể thao biển đạt trình độ quốc tế. Chú trọng cả phát triển du lịch
theo tuyến hành lang Đông - Tây. Trung tâm du lịch là tỉnh Thừa Thiên Huế, thành
phố Đà Nẵng, đô thị cổ Hội An, khu di tích Mỹ Sơn.
- Các tỉnh từ
Bình Định đến Bình Thuận: phát triển du lịch dựa trên việc phát huy tiềm năng và
lợi thế về du lịch biển là chủ yếu. Đầu tư xây dựng các khu du lịch biển quy mô
lớn với trang thiết bị hiện đại đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch có thu
nhập cao. Phát triển các loại hình du lịch có khả năng đáp ứng được nhu cầu đa
dạng với thời gian dài cho khách du lịch thông qua việc xây dựng các chương
trình du lịch tạo được sự gắn kết giữa sinh thái biển của các tỉnh ven biển Nam
Trung Bộ với sinh thái rừng núi, cao nguyên và bản sắc văn hoá của các dân tộc
Chăm và Tây Nguyên. Trung tâm du lịch là thành phố Nha Trang, Phan Thiết.
- Các tỉnh Tây
Nguyên (Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng): đẩy mạnh phát triển du
lịch theo hướng phát huy tiềm năng và lợi thế về du lịch sinh thái rừng núi,
hang động, thác, hồ nước... và văn hoá truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên
gắn với văn hoá của các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ. Trung tâm du lịch là thành
phố Đà Lạt.
b) Tuyến du lịch:
- Tuyến du lịch
ven biển dọc quốc lộ 1: tập trung khai thác tiềm năng và thế mạnh du lịch của
các khu, điểm du lịch dọc theo quốc lộ 1 từ Thanh Hoá đến Bình Thuận về văn hoá,
lịch sử cách mạng, sinh thái, nghỉ dưỡng, thể thao biển, các di sản đã được xếp
hạng di sản thế giới và các đô thị du lịch (Sầm Sơn, Cửa Lò, Huế, Hội An, Nha
Trang, Phan Thiết) để hình thành và phát triển các khu du lịch có khả năng đáp
ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch có thu nhập cao như: Khu du lịch Cảnh
Dương - Hải Vân - Non Nước (Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng), Khu du lịch Vịnh Nha
Trang (Khánh Hoà); Khu du lịch Kim Liên (Nghệ An), Khu du lịch Thiên Cầm (Hà
Tĩnh), Khu du lịch Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), Khu du lịch Hội An gắn với
di tích Mỹ Sơn (Quảng Nam), Khu du lịch Phan Thiết - Mũi Né (Bình Thuận), Khu du
lịch Phương Mai - Núi Bà (Bình Định)...
- Xây dựng các
tuyến du lịch dựa vào việc khai thác giá trị du lịch của các di tích lịch sử -
văn hoá, di tích chiến tranh và di sản đã được thế giới công nhận (di tích văn
hoá - lịch sử Kim Liên, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, di tích chiến tranh,
khu giới tuyến quân sự (Quảng Trị), cố đô Huế, khu di tích Mỹ Sơn, đô thị cổ Hội
An) để tạo tính độc đáo, hấp dẫn thúc đẩy phát triển du lịch.
- Phát triển các
tuyến du lịch sinh thái, du lịch văn hoá ở các tỉnh Tây Nguyên (Kon Tum - Gia
Lai - Đắk Lắk - Đắk Nông - Lâm Đồng) trên cơ sở phát huy giá trị du lịch của
thành phố Đà Lạt, Khu du lịch Đan Kia - Suối Vàng, Khu du lịch hồ Tuyền Lâm (Đà
Lạt, Lâm Đồng), Khu du lịch Buôn Đôn (Đắk Lắk).
- Khai thác giá
trị về du lịch của Khu Lịch sử cách mạng đường mòn Hồ Chí Minh để phát triển du
lịch.
- Khai thác các
khu du lịch, điểm du lịch sinh thái, văn hoá, nghỉ dưỡng biển và núi bằng phương
tiện giao thông đường bộ trên các tuyến quốc lộ 8, 9, 12, 40 qua các cửa khẩu
quốc tế Cầu Treo (Hà Tĩnh), Lao Bảo (Quảng Trị), Cha Lo (Quảng Bình), Bờ Y (Kon
Tum)....
c) Phát triển kết
cấu hạ tầng phục vụ phát triển du lịch:
- Đường bộ: ngoài
việc đầu tư xây dựng các tuyến đường giao thông phục vụ nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội, những tuyến đường được xác định là lộ trình du lịch với hành trình
dài cần xây dựng và hình thành trạm dịch vụ (bãi đỗ, bảo dưỡng xe kết hợp ăn
uống, giải khát, bán các sản phẩm lưu niệm, vệ sinh ...) dọc theo các tuyến
đường bộ với khoảng cách hợp lý.
- Xây dựng lộ
trình mở, khai thác các tuyến bay quốc tế đến miền Trung - Tây Nguyên và các
tuyến bay nội địa trực tiếp giữa các thành phố lớn đến miền Trung - Tây Nguyên;
nâng cấp, cải tạo nhà ga, phương tiện vận chuyển đường sắt, nâng cao chất lượng
dịch vụ để tăng lượng khách du lịch bằng tàu hoả.
- Nghiên cứu xây
dựng các tuyến du lịch bằng đường biển đến các tỉnh miền Trung, kể cả tuyến nối
với các nước trong khu vực ASEAN và các nước khác. Những nơi có cảng biển lớn
cần quy hoạch và nâng cấp để tiếp nhận được các tàu du lịch biển quốc tế tải
trọng lớn và có tiện nghi phục vụ khách du lịch.
- Tăng cường cơ
sở vật chất kỹ thuật ở các cửa khẩu quốc tế để tạo điều kiện thuận lợi đối với
khách du lịch.
d) Cơ sở vật chất
kỹ thuật du lịch:
Nâng cao chất
lượng dịch vụ tại các cơ sở lưu trú; dự báo nhu cầu về lưu trú và cơ sở lưu trú
du lịch thời kỳ 2006 - 2010 và các năm tiếp theo làm cơ sở để xây dựng và công
bố quy hoạch phát triển cơ sở lưu trú (khách sạn) ở từng địa phương và khu vực
đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của khách du lịch. Quy hoạch phát triển các
khách sạn nghỉ dưỡng cao cấp tại các khu du lịch biển, các đô thị du lịch.
Khuyến khích, tạo điều kiện cho cộng đồng dân cư tại địa phương tham gia phát
triển cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch cũng như đáp ứng nhu cầu tìm hiểu
về đặc thù văn hoá Việt Nam của khách du lịch, đồng thời tạo khả năng khắc phục
khó khăn về cơ sở lưu trú theo thời vụ, tạo việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân
tại địa phương.
Tại các trung tâm
du lịch lớn, cần có các khu vui chơi giải trí đa dạng, quy mô lớn.
đ) Xúc tiến,
quảng bá du lịch:
Quảng bá, xúc
tiến du lịch là nhiệm vụ quan trọng để thúc đẩy du lịch miền Trung - Tây Nguyên,
trước hết tập trung vào các sản phẩm du lịch đặc thù là du lịch sinh thái, văn
hoá, các giá trị tài nguyên nhân văn, kết hợp với du lịch thể thao, giải trí,
nghỉ dưỡng biển và núi, các thương hiệu của miền Trung - Tây Nguyên (Con
đường di sản, Con đường huyền thoại - đường mòn Hồ Chí Minh, Cố đô Huế, Thành
phố Nha Trang, Thành phố Đà Lạt, Con đường xanh Tây Nguyên, di tích chiến tranh
và khu giới tuyến quân sự (tuyến du lịch DMZ), tuyến du lịch đường bộ bằng
phương tiện tự lái (CARAVAN)... Đẩy mạnh quảng bá, xúc tiến du lịch miền Trung -
Tây Nguyên cả trong và ngoài nước, trước hết là những sản phẩm du lịch có tính
cạnh tranh cao so với các nước trong khu vực; có giải pháp thích hợp huy động
các nguồn lực cho các hoạt động xúc tiến, quảng bá cho du lịch miền Trung - Tây
Nguyên.
3. Giải pháp và
chính sách phát triển du lịch miền Trung - Tây Nguyên
a) Tăng cường
công tác quy hoạch và quản lý phát triển du lịch:
Các tỉnh, thành
phố thuộc miền Trung - Tây Nguyên chủ động điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát
triển du lịch theo nguyên tắc gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, phù hợp với quy
hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 - 2010. quy hoạch phát
triển du lịch của địa phương phải gắn với quy hoạch phát triển du lịch vùng,
liên vùng, gắn với bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái và gắn với
quy hoạch sử dụng đất. Các khu du lịch quốc gia phải có quy hoạch chi tiết và
được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trước khi thực hiện. Đối với các quy hoạch
khu du lịch lớn, hiện đại, quy hoạch các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch
đòi hỏi phải có chất lượng cao và có tầm chiến lược trong phát triển du lịch
quốc gia cũng như phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, toàn vùng và
cả nước nếu khả năng trong nước chưa đáp ứng được thì có thể thuê nước ngoài
thực hiện.
b) Đầu tư phát triển
du lịch:
Có cơ chế, chính
sách thích hợp về vốn, nhân lực, đất đai, thuế, huy động đầu tư nước ngoài, phát
hành trái phiếu công trình và cải tiến các thủ tục hành chính để mọi thành phần
kinh tế, cả trong và ngoài nước đầu tư phát triển du lịch miền Trung - Tây
Nguyên.
Căn cứ khả năng ngân
sách và nhu cầu đầu tư phát triển du lịch, từng tỉnh, thành phố thuộc khu vực
miền Trung - Tây Nguyên chủ động bố trí kinh phí, đồng thời có cơ chế chính sách
thích hợp để huy động các nguồn lực hợp pháp phục vụ yêu cầu đầu tư phát triển
du lịch.
Trong quá trình phân
bổ vốn đầu tư hạ tầng du lịch của Trung ương và các nguồn kinh phí khác, Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Tổng cục Du lịch cần dành ưu tiên cho các tỉnh
miền Trung và Tây Nguyên.
c) Đẩy mạnh xúc
tiến, quảng bá du lịch:
Xây dựng các chương
trình xúc tiến, quảng bá du lịch miền Trung - Tây Nguyên hàng năm theo các
chuyên đề, gắn với xúc tiến, quảng bá du lịch quốc gia, đồng thời phối hợp với
các cơ quan thông tin đại chúng, cơ quan thông tin đối ngoại, cơ quan đại diện
ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài để xúc tiến, quảng bá du lịch của khu vực ra
nước ngoài.
Tăng cường cung cấp
thông tin, hướng dẫn cho khách du lịch vào nước ta ngay tại các cửa khẩu quốc tế
và các trung tâm du lịch lớn của khu vực.
d) Phát triển nguồn
nhân lực: xây dựng kế hoạch đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch đáp ứng
yêu cầu phát triển của khu vực. Đào tạo hướng dẫn viên du lịch đủ trình độ đáp
ứng được yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế. Khuyến khích các trường đại học
trên địa bàn miền Trung - Tây Nguyên tổ chức đào tạo chuyên ngành về du lịch,
tăng cường đào tạo từ xa... Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đào tạo
phát triển nguồn nhân lực du lịch theo các loại hình dân lập, bán công...
đ) Tăng cường quản
lý nhà nước về du lịch: các tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Trung - Tây
Nguyên phải nâng cao năng lực quản lý của bộ máy và cơ quan chức năng đối với
hoạt động du lịch về việc xây dựng chiến lược, quản lý thực hiện quy hoạch phát
triển du lịch của từng địa phương và toàn khu vực nhằm đạt được mục tiêu chung
đã đề ra.
Điều 2.
Tổ chức thực hiện
1. Tổng cục Du lịch
có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và các địa phương
thuộc khu vực miền Trung - Tây Nguyên tổ chức triển khai thực hiện Quyết định
của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phương hướng và giải pháp đẩy mạnh phát
triển du lịch khu vực miền Trung - Tây Nguyên.
2. Bộ Tài chính, Bộ
Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các Bộ, ngành liên quan: ban hành theo thẩm
quyền các cơ chế, chính sách phù hợp với chủ trương của Nhà nước tạo điều kiện
thuận lợi thúc đẩy phát triển du lịch khu vực miền Trung - Tây Nguyên, trước hết
là tạo nguồn lực về vốn, về nguồn nhân lực để khai thác mọi nguồn lực phát triển
du lịch.
3. Bộ Giao thông vận
tải: chủ trì, phối hợp với Tổng cục Du lịch xây dựng quy hoạch về việc lập trạm
dịch vụ du lịch dọc theo các quốc lộ chính; nâng cấp, cải tạo các điều kiện cơ
sở vật chất kỹ thuật, chất lượng dịch vụ đường sắt, đường biển và đường hàng
không nhằm phát triển du lịch khu vực miền Trung - Tây Nguyên.
4. Các Bộ, ngành
khác trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình chủ trì hoặc phối hợp tham gia thực
hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phương hướng và giải
pháp đẩy mạnh phát triển du lịch khu vực miền Trung - Tây Nguyên.
5. Uỷ ban nhân
dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc khu vực miền Trung - Tây
Nguyên:
a) Căn cứ vào
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phương hướng và giải pháp đẩy
mạnh phát triển du lịch khu vực miền Trung - Tây Nguyên, chủ trì hoặc tham gia
tổ chức thực hiện.
b) Căn cứ vào Quy
hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 - 2010 và Quyết định của
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phương hướng và giải pháp đẩy mạnh phát
triển du lịch khu vực miền Trung - Tây Nguyên, tiến hành điều chỉnh quy hoạch
phát triển du lịch của địa phương mình cho phù hợp; quản lý chặt chẽ việc đầu tư
các dự án phát triển du lịch và xúc tiến quảng bá du lịch theo quy hoạch.
Điều 3.
Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Các Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân các tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Trung - Tây Nguyên chịu trách
nhiệm thi hành Quyết định này.
|